Các hình thức trách nhiệm vật chất

Kiến thức xây dựng

Căn cứ phát sinh trách nhiệm vật chất
Bên bị vi phạm hợp đồng kinh tế và cơ quan tài phán kinh tế chí có thể áp dụng trách nhiệm vật chất đôi với bên vi phạm hợp đổng kinh tế khi có các càn cứ sau:
– Có hành vi vi phạm hợp đồng kinh tế.
– Có thiệt hại xảy ra.
– Có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm và thiệt hại thực tế.
– Có lỗi của bên vi phạm.

Hành vi vi phạm hợp đồng kinh tế là các hành vi vi phạm các cam kết trong hợp đổng. Chúng thường thể hiện dưới các dạng là không thực hiện, thực hiện không đúng, không đầy đủ các cam kết trong hợp đổng, ví dụ giao hàng không đảm bảo chất lượng, khổng đúng thời hạn hoặc giao thiếu, không đồng bộ…

Để đòi bồi thường thiệt hại, bên bị vi phạm phải chứng minh được rằng bên vi phạm đã gây ra thiệt hại cho mình bằng hành vi vi phạm hợp đồng. Những thiệt hại dó phải là thiệt hại vật chất và thực tế, tính toán được.
Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm và thiệt hại thực tế được hiểu là mối quan hệ biện chứng, nội tại, tất yếu giữa hành vi vi phạm và thiệt hại thực tế xảy ra. Thiệt hại xảy ra là hậu quả tất yếu của hành vi vi phạm này và hành vi vi phạm này tất yếu làm phát sinh thiệt hại đó.
Thiệt hại xảy ra nhưng là hậu quả của hành vi vi phạm khác xảy ra đổng thời với hành vi vi phạm hợp đổng thì bên vi phạm không phải chịu trách nhiệm vật chất cho hành vi vi phạm khác đó. Muốn đòi bên vi phạm bồi thường thiệt hại cho mình, bên bị vi phạm phải chứng minh được mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm và thiệt hại thực tê đã xảy ra.
Trong quan hệ hợp đồng kinh tế, lỗi để áp dụng trách nhiệm vật chất là lỗi suy đoán, nghĩa là khi có hành vi vi phạm hợp đồng mà không có yếu tố khách quan tác động vào thì đều coi là có lỗi.
Bên vi phạm hợp đồng được xét giảm hoặc miễn hoàn toàn trách nhiệm vật chất trong những trường hợp có lý do khách quan theo quy định của pháp luật về hợp đồng kinh tế.

 Các hình thức trách nhiệm vật chất
Như trên đã trình bày, có 2 hình thức trách nhiệm vật chất là phạt vi phạm hợp đồng và bồi thường thiệt hại.

a) Phạt vi phạm hợp đồng
Phạt vi phạm hợp đồng là chế tài tiền tệ được xác định trước, áp dụng cho bên vi phạm hợp đồng nhằm củng cố mối quan hệ hợp đồng, nâng cao ý thức tôn trọng pháp luật hợp đồng kinh tế.
Phạt vi phạm hợp đồng mang tính chất trừng pliạt về mặt vật chất đối với bên vi phạm. Phạt vi phạm là chế tài phổ biến, nó được áp dụng với tất cả các hành vi vi phạm hợp đồng kinh tế mà không cần phải chứng minh có hay chưa có thiệt hại thực tế xảy ra.
Tiền phạt vi phạm hợp đồng kinh tế là số tiền mà bên vi phạm phải trả cho bên bị vi phạm nằm trong khung phạt đã quy định cho từng loại vi phạm hợp đồng kinh tế.

b) Bồi thường thiệt hại
Bồi thường thiệt hại là một trong những chế tài vật chất dùng để bù đắp cho những thiệt hại thực tế về vật chất xảy ra cho bên bị vi phạm. Mặc dù cũng là chế tài vật chất, bồi thường thiệt hại khác với phạt vi phạm hợp đồng kinh tế ở một số điểm sau:
– Căn cứ phát sinh bồi thường thiệt hại đòi hỏi phải đầy đủ cả 4 căn cứ như đã nêu trên, đặc biệt là thiệt hại thực tế phải là có xảy ra. Việc đòi phạt của bên bị vi phạm hợp đồng chi cần có hành vi vi phạm của bên kia mà không cần phải chứng minh có thiệt hại xảy ra hay không.
– Mức bồi thường thiệt hại không được quy định sẵn mà theo nguyên tắc: thiệt hại bao nhiêu thì bồi thường bấy nhiêu.
– Những thiệt hại thực tế mà bên vi phạm phải bồi thường cho bên bị thiệt hại gồm:
+ Giá trị tài sản bị mất mát, hư hỏng bao gồm cả tiền lãi phải trả cho ngân hàng; các khoản thu nhập mà lẽ ra trong điều kiện bình thường bên bị vi phạm cũng sẽ thu được.
+ Các chi phí để hạn chế thiệt hại do hành vi vi phạm gây ra mà bên bị vi phạm phải gánh chịu.
+ Tiền phạt và bồi thường thiệt hại mà bên bị vi phạm phải trả cho người khác do lỗi của bên vi phạm hợp đồng gây ra.
Khoản tiền bồi thường do bị thiệt hại nhằm bù dắp, khôi phục lại lợi ích của bên bị thiệt hại, vì vậy, bồi thường thiệt hại không mang tính chất trừng phạt bên vi phạm hợp đồng.