Khái niệm, bản chất và phân loại giao tiếp

Kiến thức xây dựng

1. Khái niệm, tác dụng của giao tiếp
Giao tiếp là hoạt động xác lập và vận hành mối quan hệ giữa người với người nhằm thỏa mãn những nhu cầu nhất định.
Giao tiếp có các tác dụng:
– Giúp con người hiểu biết về trí tuệ, khả năng, ước mơ, hoài bão, niềm tin, lý tướng, quan điểm sống, ý chí, tình cảm, tính cách… của đối tác.
– Giao tiếp giúp con người học tập, bắt chước lẫn nhau, học hỏi kinh nghiệm cúa nhau: “gần mực thì đen, gần đèn thì rạng”.
– Giao tiếp giúp thỏa mãn nhu cầu san sé, trao đối, mang lại niềm vui và hạnh phúc cho con người, giao tiếp làm cho “niềm vui nhân đôi, nỗi buồn vơi nửa”.
Giao tiếp trong quản lý là hoạt động xác lập mối quan hệ quản lý và sự tiếp xúc giữa con người với nhau để cùng hiểu biết vể tình huống, cùng điều chỉnh mục tiêu và hành vi nhằm mang lại lợi ích cao nhất trong việc thỏa mãn nhu cầu theo mục tiêu quán lý của các bên tham gia.
Hoạt động quản lý là một hoạt động giao tiếp phức tạp vì nhà quản lý phải tiếp xúc với nhiều loại người với những động cơ, nhu cầu và thị hiếu khác nhau. Đối lác của nhà quán lý có thể là cấp dưới trong phổ biến, giao việc; có thể là cấp trên khi nhận mệnh lệnh, chỉ thị; có thể là ngang cấp khi đàm phán với bạn hàng, với người cung cấp; có thê là đại diện của các cơ quan công quyền… Vì lý do đó, nhà quản lý phái có kỹ năng giao tiếp tốt trong mọi tình huống, với mọi đối tác.

2. Bản chất tâm lý của hành vi giao tiếp
Tronư giao tiếp, các bên không chí truyền thông tin cho nhau mà còn nhận thức, tìm hiểu lẫn nhau. Nhận thức này làm cơ sớ nảy sinh ra tình cảm, sự gắn bó… Giao tiếp, về bản chất, là một quá trình tâm lý. Trong quá trình tâm lý đó, các đối tượng tìm hiểu lẫn nhau, tự tìm hiếu bản thân và có tác động qua lại.

2.1. Giao tiếp là quá trình nhận thức nụtòi khác
Trong giao tiếp, trước hết, các chủ thể nhận thức đối tượng giao tiếp bằng con đường cảm tính thông qua các giác quan của mình như quan sát tướng mạo, vẻ mặt, dáng diệu, tư thế. tác phong, ánh mắt, nụ cười, lời nói, quần.áo và các hành vi khác. Quá trình nhận thức này diễn ra trong suốt quá trình giao tiếp và giúp chủ thể phán quyết về bản chất bên trong của đối tượng như đạo đức, năng lực và các phẩm chất nhân cách khác.
Có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng và làm sai lệch nhận thức của chúng ta về người khác:

a) Các yếu tố chủ quan
al. Tính lựa chọn: hình ảnh của một đối tượng nào đó tạo ra trong mỗi con người (chủ thể nhận thức) phụ thuộc rất nhiều vào đời sống tâm lý của bản thân người đó. Có điều này là do tính lựa chọn: mỗi con người (chủ thể nhận thức) không thể nhìn nhận hết các đặc tính của đối tượng mà chỉ nhìn thấy một phần nào đó. Phần nhìn thấy đó phụ thuộc nhiều vào ý thích, khả năng… của chính chủ thể nhận thức. Sự nhìn nhận có lựa chọn đó, giúp chủ thể nhận thức nhận thức đối tượng nhanh hơn nhưng đồng thời cũng dễ có sai sót.

a2) Ấn tượng, tình cảm: ấn tượng, tình cảm của chủ thể về đối tượng có tác động rất lớn đến sự nhận thức của chủ thể: “không ưa thì dưa có dòi”.

a3) Tâm trạng: Tâm trạng của chủ thể cũng ảnh hưởng đến sự nhận thức về đối tượng: “người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”.

b) Các xêu tổ khách quan
b 1) Áo ảnh: Nhiều đặc điểm của đối tượng gây cho chủ thể ảo ảnh như sự hào nhoáng bên ngoài, bằng cấp, quần áo… để lại nhiều ảnh hưởng trong giao tiếp. Ảo ảnh sẽ qua đi sau khi chủ thể đã nhận thức đủ rõ về đối tượng: “quen bụng dạ, lạ áo quần” hay “gặp theo hình thức, tiền theo tấm lòng”.
b2) Hiệu ứng so sánh: chủ thể nhận thức luôn luôn có xu hướng nhìn nhận các đối tượng trong so sánh tương quan với nhau.
b3) Nhóm theo đặc điểm: các đối tượng có cùng chung một đặc điểm thường được chủ thể nhận thức nhóm lại theo đặc điểm đó. Vì lý do đó, hai người khác nhau có thể bị đánh giá như nhau chỉ vì họ có cùng một đạc điểm nào đó.

c) Bối cảnh íịiao tiếp
Nhận thức của chú thể về đỏi tượng phụ thuộc nhiều vào tình huống, bối cảnh trong dó diễn ra quá trình giao tiếp. Cùng là những con người đó nhưng cho gặp gỡ ở các khung cảnh khác nhau người này sẽ có những nhìn nhận khác nhau về người kia.