Ký kết hợp đồng kinh tế

Kiến thức xây dựng

1.Ký kết hợp đồng kinh tế
1.1. Nguyên tắc ký kết hợp đồng kinh tế
Nguyên tắc ký kết hợp dồng kinh tế là những tư tưởng chỉ đạo được quán triệt trong các quv phạm pháp luật về hợp đồng kinh tế có lính chất bắt buộc đối với các chủ thể trong khi tiến hành ký kết hợp đồng kinh tế.
Theo Điều 3 của Pháp lệnh hợp đồng kinh tế thì: “Hợp đồng kinh tế được ký kết theo nguyên tắc tự nguyện, cùng có lợi, bình đẳng về quyền và nghĩa vụ, trực tiếp chịu trách nhiệm tài sản và không trái pháp luật”.

a) Nguyên rắc tự nguyện
Nguyên tắc này thể hiện ở việc tôn trọng quyền tự do, ý chí và tự định đoạt của các chủ thể. Các bên có quyền tự do trong lựa chọn đối tác, thời điểm và nội dung ký kết. Khi xác lập quan hệ hợp đồng, các bên tự nguyện thống nhất bày tỏ ý chí nhằm đạt tới một mục đích nhất định. Việc tham gia hợp đồng hay không là do các bên toàn quyền định đoạt. Mọi sự ép buộc ký kết hợp đồng giữa bên này với bên kia đều làm cho hợp dồng trở thành vô hiệu.

b) Nguyên tắc bình đẳng và cùng có lợi
Theo nguyên tắc này, các chủ thể hợp đồng đều có vai trò như nhau trong việc sử dụng quyền và nghĩa vụ mà pháp luật quy định để thỏa thuận những vấn đề mà các bên quan tâm nhằm đạt được mục đích cuối cùng là thiết lập mối quan hệ hợp đồng kinh tế. Các bên đểu có quyền bàn bạc, thể hiện ý chí của mình, có quyền chấp nhận hoặc không chấp nhận đề nghị của bên kia trong quá trình ký kết hợp đồng.
Thực hiện nguyên tắc không phụ thuộc vào quan hệ sở hữu và quan hệ quản lý của các chú thể hợp đồng. Nghĩa là, bất kể các chú thể hợp đồng thuộc thành phần kinh lê nào, do cấp nào quản lý, khi ký kết hợp đổng với nhau đều bình đẳng về quyền và nghĩa vụ, cùng có lợi trên cơ sớ thỏa thuận và phải gánh chịu trách nhiệm vật chất nếu vi phạm hợp dồng đã ký.

c) Nguyên tắc trực tiếp chịu trách nhiệm tài sản và không trái pháp luật
Trực liếp chịu trách nhiệm tài sản nghĩa là nếu có vi phạm hợp đổng, bén vi phạm phải chịu trách nhiệm trả tiền phạt và bồi thường thiệt hại (nếu có thiệt hại xảy ra) cho bên bị vi phạm bang chính tài sản của mình mà không phụ thuộc vào cơ quan, tổ chức hav cá nhàn có lỗi đã gây ra sự vi phạm đó, trừ các trường hợp miễn giám trách nhiệm vật chất.
Nguyên tắc không trái pháp luật đòi hỏi chủ thể hợp đồng, hình thức, thú tục ký kết và nội dung hợp đồng kinh tế phải phù hợp, tuân thủ đúng các quy định của pháp luật.

1.2. Chủ thể của hợp đồng kinh tế
Chú thể của hợp đồng kinh tế là các bên tham gia quan hệ hợp đồng kinh tế, hoàn toàn bình đẳng, tự nguyện thỏa thuận để xác định những quyền và nghĩa vụ đối với nhau.
Theo quy định của Pháp lệnh hợp đồng kinh tế, một hợp đổng kinh tế có thê được ký kết giữa:
– Pháp nhân với pháp nhân; hoặc
– Pháp nhân với cá nhân có đăng ký kinh doanh.
Theo Điéu 94 Bộ luật Dàn sự thì pháp nhân là các tổ chức có đầv đủ các điều kiện sau:
– Được CO’ quan Nhà nước có thẩm quyền thành lập, cho phép thành lập hoặc công nhận.
– Có cơ cấu tổ chức thống nhất.
– Có tài sản độc lập và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản đó.
– Nhân danh mình tham gia các quan hệ pháp luật một cách độc lập.

1.3. Căn cứ ký kết hợp đồng kinh tế
Hợp đồng kinh tế được ký kết dựa trên cấc căn cứ sau:
– Định hướng kế hoạch của Nhà nước, các chính sách, chế độ, các chuẩn mực kinh tế – kỹ thuật hiện hành.
– Nhu cầu thị trường, đơn đặt hàng, đơn chào hàng của bạn hàng.
– Khả nãng phát triển sản xuất kinh doanh, chức nãng hoạt dộng kinh doanh của doanh nghiệp.
– Tính hợp pháp của hoạt động sản xuất kinh doanh và khả nâng đảm báo về tài sán của các bên tham gia ký kết hợp đồng.

1.4. Trình tự, thủ tục ký kết hợp đồng kinh tế
Trình tự, thủ tục ký kết hợp đồng kinh tế là cách thức các bước mà các bên tiến hành theo quy định của pháp luật nhằm thiết lập quan hệ hợp đồng Kinh tế.
Khi ký kết họp đồng kinh tế, tùy theo đặc điểm của mỗi hợp dồng và sự thỏa thuận của các bên, có thể lựa chọn một trong hai cách sau:

a) Ký kết trực tiếp
Ký kết trực tiếp là cách mà theo đó đại diện có thẩm quyền của các bên trực tiếp gặp nhau bàn bạc, thỏa thuận các điều khoản của hợp đồng và cùng ký vào văn bản hợp đổng tại một địa điểm nhất định.
Theo cách này, hợp đồng kinh tế được hình thành và có giá trị pháp lý từ thời diêm các bên cùng ký kết vào văn bản hợp đồng.

b) Ký kết gián tiếp
Ký kết gián tiếp là cách ký kết mà theo đó các bên thỏa thuận với nhau những vân đề về nội dung hợp đồng bằng cách gửi cho nhau dự thảo hợp dồng hoặc tài liệu giao dịch có chứa đựng nội dung cần giao dịch. Theo cách này việc ký kết hợp đồng thường phai thực hiện theo 2 bước:

c) Lập dự thảo hợp đồng (để nghị hợp đồng)
Tại bước này, bên có nhu cầu ký hợp đồng lập ra những yêu cầu giao dịch như tên hàng hóa, số lượng, chất lượng, thời gian, địa điểm, giá cả, phương thức giao nhận, phương thức thanh toán… và ký trước vào dự thảo, sau đó gửi cho bên kia.
Can Ill’ll V đưa ra thời hạn trả lời dự thảo hợp đồng. Việc quy định thời hạn trả lòì dụ thao hợp dons có ý nghĩa thực tiễn. Nó ràng buộc bên dự thảo hợp đồng với lời đề nghị Irons thời hạn dó và xác định trách nhiệm trả lời của bên nhận đề nghị hợp đồng.

d) Trả lời dự thảo hợp đồng
Trona bước này bèn nhận dự thảo hợp đồng có trách nhiệm trả lời bên lập dự thảo bằng vãn bàn trong đó có ghi rõ những nội dung chấp nhận, những nội dung không chấp nhận và những đề nghị bổ sung của mình trong thời hạn trả lời ghi trong dự thảo. Bên kia. sau khi nhận được câu trả lời, trong thời hạn quy định cũng phải trả lời bằng văn bản có đồng V phần bổ sung hay không, có thêm, bớt gì không…
Họp đồng được ký kết bằng phương pháp này được coi là hình thành và có giá trị pháp lý khi các bén nhận dược tài liệu giao dịch thể hiện sự thỏa thuận về tất cả các diều khoán chú yếu của hợp đồng ký kết đó.
So với cách ký kết trực tiếp thì cách ký kết gián tiếp phức tạp, tốn kém thời gian, kết quá thỏa thuận chậm và không đảm bảo chắc chắn độ chi tiết của nội dung hợp đồng. Vì thê để giám bớt những hạn chế của cách này, các bên có thể tiến hành ký kết hợp đồng kinh tê bang cách kết hợp cả 2 cách trên.