Quan niệm hiện đại về quản lý chất lượng

Kiến thức xây dựng

 Một số nhận thức sai lấm về chất lượng
Trở ngại lớn nhất đối với việc nâng cao chãi lượng sán pliấm ớ các nước đang phát trio’ll là do nhận thức chưa đầy dứ cứa người sàn xuất vé chất lượng. Mọt số nhận thức sai lầm đó là:

1. Nâng cao chất lượng đòi hỏi chi phí lớn.
Không phái chất lượng cao hơn đòi hòi chi phí lớn hon. Điều quan trọng là chất lượng được tạo dựng như thế nào trong quá trình sản xuất? Trước hòi chất lượng được hình thành từ giai đoạn thiết kế, dựa trên như cầư của thị trường. Vì vậy. diìu tư tlioã dáng ngay từ giai đoạn nghiên cứu và triển khai sẽ đem lại những cái tiên dáng kè về chất lượng sán phẩm. Đổng thời, việc cài liến các quá trình san xuất sẽ làm giam dáng kẽ tong chi phí sán xuất. Thực tế ó’ các nước cống nghiệp phát trie’ll, dặc hiệt doi với các hàng diện, diện tử, chất lượng sản phàm ngày càng cao trong khi chi phí sán xuất ngày càng giám.

2. Nhấn mạnh vào clnít lượng sẽ làm giâm năng suất
Sai lầm này là do trước dày kiểm tra chất lượng sán phẩm cuối cùng dược coi là biện pháp duy nhất của kiểm soát chất lượng. Việc kiểm tra gav gãt các sán phám cuối cùng dẫn dến loại ra một số lượng lớn sán phám và do đó nó làm giảm nàng suất.
Ngày nay, quán lý chất lượng chú yếu là phòng ngừa ngay từ giai doạn thiết kẽ và trie’ll khai với phương châm là làm dúng và làm kỹ ngav từ dầu. Do dó, việc nâng cao chat lượng và năng suất không hể mâu thuẫn mà thậm chí còn là bổ sung cho nhau. Nghĩa là các cái tiến về quản lý chất lượng nói chung sẽ dem lại năng suất cao hơn. Đó là do chãi lượng thiết kế tốt giúp cho sán phẩm đáp ứng đúng nhu cầu đòi hói của khách hàng, thích hợp với năng lực san xuất cúa tổ chức. Kết quá là lổ chức/doanh nghiệp sán xuất ra sàn phẩm có chất lượng cao với năng lực hợp lý, tiết kiệm.

3. Quy đổi chất lượng kém cho người lao dộng
Không thế quy lỗi chất lượng kém cho ý thức, tập quán làm việc kém của công nhân. Các nghiên cứu phân tích cho ihấv lằng trẽn 80% những sai hỏng xét cho cùng là do lỗi cúa người quản lý. Còng nhân chi chịu trách nhiệm về chất lượng kém nếu đã được:
– Đào tạo, lý giải kỹ về sử dụng và vận hành MMTB;
– Được hướng dẫn chi tiết về những việc phai làm;
– Được CUI1S cấp đầy dù phương tiện để kiểm tra, đánh giá kết quả công việc và diều chinh quá trình, thiết bị nếu thấy kết quả không đáp ứng yêu cầu.

4. Cải tiến chất lượng đòi hỏi phái đầu tư lớn
Cái tiến chất lượng không nhất thiết phải đầu tư lớn. Nhà xưởng, MMTB đắt liền chi là một phần vì bán thân chúng không dủ đám báo chất lượng tốt. Trong hầu hốt mọi trường hợp, chất lượng có thể được cải tiến dáng kể nhờ:
– Tạo ra nhận thức trong cán bộ công nhân viên về đáp ứng yêu cầu khách hàng và các bên quan tâm;
– Tiêu chuấn hoá các quá trình:
– Đào tạo. củng cố kỷ luật lao động, làm đúng kỹ thuật.
Những việc làm trên không đòi hỏi phải đầu tư lớn mà chí cán có cách quán lý đúng, sụ quvết tâm và cam kết đối với chất lượng trong hàng ngũ lãnh đạo và cuốn hút dược sự tham gia của tất cá cán bộ công nhân viên.

5. Chất tượng được đảm bảo do kiểm tra chặt chẽ
Đầu thế kỷ 20, kiếm tra tại xướng sản xuất là hình thức kiểm tra chất lượng chính thức đầu liên. Khi đó háu hết các nhà sản xuất tin tưởng rằng chất lượng có the dược cài liến do kiểm tra chặt chẽ. Thực ra, theo bản chất, kiểm tra chỉ có thể phân loại sán phẩm phù hợp hav không phù hợp với các liêu chuán dã dặt ra. Bán thân hoạt động kiếm tra không thể cải tiến được chất lượng sán phẩm. Nói khác đi, chất lượng không thể dược lạo dựng nên qua công tác kiếm tra. Ngoài ra các nghiên cứu cho thấy từ 60% đốn 70% các khuyết lật được phát hiện tại xưởng sản xuất có liên quan trực tiếp hay gián tiếp dốn những thiếu sót cứa các giai đoạn trước sán xuất như thiết kế. chuẩn bị sàn xuất, cung ứng, nuuvên vật liệu…
Tóm lại, dê lạo nên chuyển biến về chất lượng để có thể cạnh tranh và hội nhập, cần phái thay dổi từ trong nhận thức về quan niệm, về phương pháp, về xây dựng chiến lược quán lý chất lượng tiên tiến phù hợp.

 Chi phí của chất lượng
Quan điểm về chất lượng truyền thống cho rằng hoạt động sản xuất không có sai hỏna là quá tốn kém dẫn đến giá bán rất cao. Tổng chi phí để tạo nên chất lượng gồm có 2 thành phần là chi phí của bản thân quá trình tạo nên chất lượng và chi phí mất mát do chất lượng kém. Tăng chi phí cho hoạt dộng tạo nên chất lượng thì có thê giảm chi phí do mất mát vì chất lượng kém và ngược lại. Do đó, người ta cố gắng tìm đến một điếm mà tại dó tổng chi phí của hoạt động tạo nên chất lượng là thấp nhất (hình 4.1).

Quan niệm hiện đại về quản lý chất lượng 1

Vậy tại sao người Nhật Bản lại luôn quá thành công trong việc đồng thời nâng cao chất lượng và giảm các chi phí sản xuất?
Mối quan hệ giữa chi phí và chất lượng trình bày trong hình 4.1 về cơ bản luôn luôn đúng. Chỉ có điều, nội dung của từng loại chi phí là gì? Người Nhật đã khai thác triệt để được các lợi ích của chất lượng tốt nên đã kéo được điểm thấp nhất của đường tổng chi phí dịch hẳn về phía phải. Nhà nghiên cứu Cole (1992) cho rằng người Nhật đã thành công ở những điểm sau:
1. Các nhà quản lý Nhật Bản cho rằng cá’ li tính toán truyền thống đã đánh giá quá thấp các chi phí của chất lượng kém. Điển hìnn là các tính toán này bỏ qua những tổn thất do mất khách hàng và những người không bao giờ mua sản phẩm vì những dồn đại tiêu cực trong công chúng, vì danh tiếng ngày càng giảm sút do chất lượng kém. Những ánh hưởng này rất khó lượng hoá nhưng là không nhỏ và người Nhật đã tập trung vào việc bảo vệ danh tiếng của mình cũng như giành được tín nhiệm của khách hàng. Tóm lại, người Nhật cho rằng thật ra chi phí do chất lượng kém cao hơn nhiều so với tính toán truvền thống.
2. Cách tiếp cận truyền thống đánh giá quá thấp lợi Ích của một môi trường mù vấn đề chất lượng trớ thành động lực của người lao động trong phạm vi toàn bộ tổ chức. Một nghiên cứu do Văn phòng kế toán Chĩnh phủ Mỹ (GAO) thực hiện nãm 1991 cho thấy rằng các công ty áp dụng mô hình quản lý chất lượng toàn diện (TQM) đạt được các
quan hệ nhân viên tốt hơn, năng suất cao hơn, sự hài lòng của khách hàng cao hơn, thị phần tăng lên và lợi nhuận dược cái thiện. Các chi tiêu khác về mức thay đổi nhân viên, độ tin cậy của sản phẩm, chuyển giao hàng đúng hạn, thời gian xử lý đơn đật hàng, số lượng các sai hỏng, vòng quay hàng tồn kho… cũng đều tốt hơn.
1. Người Nhật đã thực hiện quá trình lạo nên chất lượng đi đôi với việc tối thiểu hoá chi phí. Họ đã khai thác với chi phí thấp những sáng kiến cải tiến chất lượng từ trong đội ngũ các công nhân sản xuất trực tiếp. Thực tế ớ những nơi khác cũng cho thấy rằng những người công nhân sản xuất trực tiếp (có chi phí nhân công thấp) đã đưa ra rất nhiều sáng kiến cải tiến kỹ thuật giá trị, những điều đáng ra là của các kỹ sư, tiến sỹ được đào tạo kỹ càng (chi phí nhân công cao).
2. Cần phải ngăn ngừa chất lượng kém ngay từ nguồn phát sinh. Nghĩa là phải làm tốt ngay từ đầu, từ trong ý tưởng về sản phẩm, từ trong thiết kế sản phẩm. Một cuộc hội thảo vể thất thoát trong xây dựng cơ bản đã đi đến kết luận rằng, thất thoát chủ yếu không phải chỉ ở trong bản thân quá trình xây dựng công trình. Những tổn thất do sai sót từ trong quy hoạch lớn hơn rất nhiều.
3. Các nhà quản lý Nhật Bản nhận thức được rằng cải tiến chất lượng không phải là dưa thêm các thuộc tính vào sản phẩm, điểu này sẽ đòi hỏi thêm chi phí, mà là vấn đề cái thiện chất lượng của toàn bộ quá trình sản xuất. Một dây chuyền tốt phải được tạo nên bới lất cá các mắt xích tốt, chỉ cần một mắt xích yếu thì cả dây chuyền bị ảnh hưởng. Việc thực hiện các công việc đúng ngay lần đầu sẽ làm giảm đáng kể khối lượng công việc phải làm lại. Nhũng người tham gia vào các quá trình sản xuất dược đào tạo và giao trách nhiệm cải tiến khâu của mình. Do đó tất cả các khâu của quá trình đều được thực hiện tốt, không sai hỏng ngay từ đầu và luôn luôn được chú ý cải tiến cho tốt hon nữa.
4. Ngoài ra, người Nhật Bản khám phá ra rằng, khách hàng sẵn sàng chi trả chơ chất lượng, nghĩa là. bằng việc dạt được các tiêu chuẩn chất lượng cao, họ có thể tính một mức chi phí trong các sản phẩm của mình. Thêm vào đó, người Nhật khai thác được nhu cầu về chất lượng trong khách hàng, đào tạo khách hàng để họ có nhu cầu chất lượng ngày càng cao. Điều nàv cho phép một mức giá cao hơn, hoặc một thị phần lớn hơn.
Các phân tích trên đã có một tiếng vang lớn. Nó đã làm thay đổi tư duy truyền thống vể quan hệ chi phí và chất lượng.