Quyền và nghĩa vụ của các bên khi thực hiện hợp đồng

Kiến thức xây dựng

Thực hiện hựp đổng kinh tế
Thực hiện hợp doin’ kinh rể là hành vi kinh tể cùa các chủ thể tham gia quan hệ hợp dồng nhảm làm cho các diều khoản mù hai hên đã cam kết trong hợp doin’ trở lliành hiện thực.

1. Nguyên tắc thực hiện hợp đồng
Sau khi hợp đổng kinh tế dược ký kết xong và có hiệu lực, các bên bị ràng buộc vào trách nhiệm thực hiện các điều khoản đã cam kết. Mọi hành vi không thực hiện hợp dồng hoặc thực hiện không đầy đủ đều bị coi là vi phạm hợp đồng và phải chịu trách nhiệm vật chất.

Để cho hợp đổng được thực hiện một cách đầy đủ và đúng, các bên phải tuân theo các nguyên lắc sau:

a) Nguyên tắc chấp hành hiện thực
Chấp hành hiện thực là chấp hành đúng đối tượng hợp đồng, không được tự ý thay đối dối tượng này bằng đối tượng khác hoặc thay thế việc thực hiện nó bằng cách trả một số tiền nhất định hoặc không thực hiện. Nghĩa là, thỏa thuận cái gì thì phải thực hiện đúng cái đó.

b) Nquyên tắc chấp hành đủng
Chấp hành đúng nghĩa là thực hiện hợp đồng một cách hiện thực và đầy đủ, chính xác tất cả các điều khoản đã thỏa thuận trong hợp đồng. Theo nghĩa này, nguyên tắc chấp hành clúng bao trùm và rộng hơn nguyên tắc chấp hành hiện thực. Nguyên tắc chấp hành đúng đòi hỏi các bên thực hiện nghĩa vụ của mình một cách đầy đủ, đúng đắn, chính xác các cam kết, không phân biệt điều khoản chủ yếu, điều khoản thường lệ hay tùy nghi. Nếu vi phạm bất cứ cam kết nào trong hợp đồng đều phải chịu trách nhiệm vật chất cho hành vi đó.

c) Nguvên tác hợp tác, tương trợ giúp đỡ lẫn nhau trên tinh thần đôi hên cùng có lợi
Nguyên tắc này đòi hỏi các bên trong quá trình thực hiện họp đồng phái hợp tác chặt chẽ, thường xuyên theo dõi, giúp đỡ lẫn nhau để khắc phục các khó khăn nhằm thực hiện nghiêm chỉnh các nghĩa vụ đã cam kết. Ngay cả khi tranh chấp hợp đồng, các bên cũng phái áp dụng nguyên tắc này thông qua việc hiệp thương giải quyết hậu quả của việc vi phạm hợp đồng. Nguyên tắc này có ý nghĩa trong việc phòng ngừa, ngăn ngừa và giái quyết kịp thời các tranh chấp hợp đồng kinh tế nhằm đảm bảo lợi ích của các bên.

2. Quyển và nghĩa vụ của các bên khi thực hiện hợp đồng
Thực hiện hợp đồng kinh tế đã ký kết là quyền và nghĩa vụ của các bèn. Các quyền và nghĩa vụ này được thể hiện qua các nội dung sau:

a) Quyên và nghĩa vụ trong thực hiện đúng điều khoản sô’lượng
Thực hiện đúng về số lượng lức là giao đầy đủ số lượng, trọng lượng hàng hóa, khối lượng còng việc theo phương thức giao nhận như đã thỏa thuận.
Trong quá trình giao nhận phải tổ chức kiểm tra sô’ lượng hoặc/và trọng lượng hàng hóa hoặc kết quả công việc. Việc kiểm tra này phải được lập biên bản ghi nhận kết quả.
Nếu phát hiện ra thiếu hụt hàng hóa thì phải tìm nguyên nhân để quy trách nhiệm vật chất. Nếu sán phấm hàng hóa hoặc khối lượng công việc giao không đồng bộ như đã thỏa thuận thì bên bị vi phạm có quyền không nhận cho đến khi sản phẩm hàng hóa hoặc khối lượng công việc được hoàn thành đồng bộ.

b) Quyền và nghĩa vụ trong thực hiện điều khoản chất lượng hàng hóa, dịch vụ
Giao hàng đúng chất lượng có nghĩa là hàng hóa được giao phải đảm bảo khả nâng sử dụng, đảm bảo đúng phẩm chất, bao bì, đóng gói, quy cách, chủng loại, tiêu chuẩn kỹ thuật của Nhà nước, ngành hoặc của đơn vị đã đăng ký tại cơ quan quản lý của Nhà nước cỏ thám quyền.
Khi giao nhận, các bên phải tiến hành kiểm tra chất lượng sản phẩm hàng hóa, công việc. Trong trường hợp có sự vi phạm phải làm rõ nguyên nhân, mức độ vi phạm và quy trách nhiệm rõ ràng dế xử lý theo quy định của pháp luật.

c) Quyền và nghĩa vụ trong thực hiện diều khoản về thời gian
Thời gian có thể biểu hiện ở 2 góc độ là thời hạn và thời điểm. Theo từng loại hợp dồng kinh tế người ta có thể thỏa thuận thời hạn hoặc/và thời điểm thực hiện hợp đồng.
Thời hạn thực hiện hợp đồng là khoảng thòi gian nhất định mà trong khoáng thời gian dó quyền và nghĩa vụ của các hên phải được thực hiện dầy đủ như đã thỏa thuận trong hợp đồng.
Thời điểm là mốc thời gian mà tại dó các bên phải hoàn thành nghĩa vụ của mình như đã thỏa thuận trong hợp đồng. Đây là những mốc thời gian đã quy định sẵn trong hợp đồng mà các bên phái tuân theo.
Theo nguyên tắc chấp hành đúng, các bên phải giao nhận hàng đúng thời hạn và đúng thời điểm. Nếu giao hàng chậm so với thời hạn hoặc/và thời diểm như đã thỏa thuận đều là vi phạm hợp đồng về mặt thời gian. Khi đó, bên bị vi phạm có quyền không nhận sản phẩm hàng hóa dù đã hoàn thành và đòi phạt vi phạm hợp đồng và bồi thường thiệt hại như trường hợp không thực hiện hợp đồng.
Trường hợp từng phần hoặc toàn bộ hợp đồng kinh tế được thực hiện trước thời hạn. bên đặt hàng cũng có quyền không nhận nếu trong hợp đồng không có quy định khác.
Khi sản phẩm hàng hóa hoặc công việc đã hoàn thành một cách đồng bộ, đảm bảo chất lượng và đúng về thời hạn, thời điểm mà bị bên đật hàng từ chối tiếp nhận thì bèn giao hàng có quyển đòi phạt vi phạm hợp đồng, đòi bồi thường các khoản chi phí liên quan đến bảo quản, chuyên chở và các thiệt hại khác do việc không tiếp nhận gây nên.

d) Quyền và nghĩa vụ trong thực hiện điều khoản về địa điểm
Địa điểm giao nhận là nơi mà tại đó hàng hóa hoặc kết quả công việc được giao nhận. Địa điểm giao nhận hàng hóa có thể là được thỏa thuận trước trong hợp đồng, có thế là theo quy định của pháp luật về loại hợp đồng kinh tế đó. Trường hợp các bên không thỏa thuận và không có quv định của pháp luật đối với loại hợp đổng kinh tế đó thì địa điểm giao nhận là kho chính của bên bán hàng và giao nhận trên phương tiện vận chuyển của bên đặt hàng, mua hàng.
Trường hợp giao hàng không đúng địa điểm như đã thỏa thuận, bên bị vi phạm có quyển đòi phạt vi phạm hợp đồng.

e) Quvén và nghĩa vụ trong thực hiện điều khoản về giá cả, thanh toán
Các bên có quyền thỏa thuận về giá cả của hàng hóa, dịch vụ và ghi cụ thể trong hợp dong kinh tế, thỏa thuận về điều kiện, khả năng, nguyên tắc thủ tục để thực hiện việc thay dối giá khi có sự biến động giá cả thị trường trong quá trình thực hiện hợp đồng kinh tế.
Sau khi nhận hàng, bên đặt hàng có nghĩa vụ thanh toán đúng và đầy đủ tiền cho dối tác. Thực hiện nghĩa vụ thanh toán, bên đặt hàng có thể trả bằng tiền mặt, chuyển khoản hoặc bằng hiện vật theo thỏa thuận của các bên.
Trường hợp thanh toán bằng chuyển khoản, tức là thông qua ngân hàng, bẽn đặt hàng phải thanh toán theo thể thức (chấp nhận, ủy nhiệm chi, thư tín dụng, séc…) và đúng thời hạn như đã thỏa thuận trong hợp đồng.
Bên đặt hàng dược coi là hoàn thành nghĩa vụ thanh toán kể từ khi chuyển đủ số tiền trên tài khoản của mình cho đối tác, hoặc kể từ khi bên đòi tiền trực tiếp nhận dú số tiền mặt theo hóa đơn, hoặc nếu bẽn dặt hàng để nghị và dược bên đòi tiền chấp nhận trả bằng hiện vật hay tài sản thế chấp cầm cố, bảo lãnh có giá trị tương đương và việc trá hiện vật hoặc các tài sản đó đã được thực hiện xong.
Trường hợp có vi phạm nghĩa vụ thanh toán, bên vi phạm phải chịu phạt và bồi thường thiệt hại nếu có thiệt hại xảy ra.

3. Các biện pháp đảm bảo thực hiện hợp đồng kinh tế
Để đảm bảo hợp đồng được thực hiện, khi ký kết hợp đồng kinh tế, các bên có thể thỏa thuận áp dụng các biện pháp sau:

a) Thế chấp tài sản
Thế chấp tài sản là dùng bất động sản thuộc quyển sở hữu của mình để bảo đảm cho việc thực hiện hợp đồng kinh tế đã ký.
Việc thế chấp tài sản phải được thể hiện thành văn bản riêng có sự xác nhận của cơ quan công chứng hoặc cơ quan có thẩm quyền đăng ký kinh doanh (trường hợp không có cơ quan Công chứng Nhà nước). Tài sản thế chấp do bên được thế chấp giữ các giấy tờ chứng nhận quyền sở hữu. Bên thế chấp có nghĩa vụ bảo đảm nguyên giá trị của tài sản đem ra thế chấp; không được chuyển dịch sở hữu hoặc tự động chuyển giao tài sản đó cho người khác trong thời hạn vãn bản thế chấp tài sản có hiệu lực. Hết thời hạn mà bên thế chấp không hoàn thành nghĩa vụ thì tài sản thế chấp được xử lý để bảo đám quyền lợi cho bèn được thế chấp.

b) Cầm cố tài sản
Cầm cố tài sản là việc trao động sản thuộc quyển sở hữu của mình cho đối tác trong quan hệ hợp đồng giữ làm tin và bảo đảm tài sản trong trường hợp vi phạm hợp dồng kinh tế đã ký kết.
Việc cầm cố tài sản phải được thể hiện thành văn bản riêng có sự xác nhận của cơ quan công chứng hoặc cơ quan có thẩm quyển đăng ký kinh doanh (trường hợp không có cơ quan Công chứng Nhà nước). Văn bản này phải ghi 1Õ tài sản cầm cố, giá trị tài sản cầm cố. Người giữ tài sản cầm cố có nghĩa vụ bảo đảm nguyên giá trị của vật cầm cố; không được chuyển dịch sở hữu vật cầm cố cho người khác trong thời hạn văn bàn cầm cố có hiệu lực. Hết thời hạn mà người cầm cố không hoàn thành nghĩa vụ thì tài sản cầm cố được xử lý để bảo đảm quyền lợi cho bên nhận cầm cố.

c) Bảo lãnh tài sản
Bảo lãnh tài sản là việc sự bảo đảm bằng tài sản thuộc quyền sở hữu của người nhận báo lãnh để chịu trách nhiệm tài sản thay cho người được bảo lãnh khi người này vi phạm hợp đồng kinh tế đã ký kết.
Người nhạn bảo lãnh phải có số tài sản bảo lãnh không nhỏ hơn số tài sản mà người đỏ nhận bảo lãnh. Việc bảo lãnh phải được làm thành văn bản liêng có sự xác nhận về tài sản của ngân hàng nơi người bảo lãnh giao dịch và của cơ quan công chứng hoặc cơ quan có thám quyền đăng ký kinh doanh (trường hợp không có cơ quan Công chứng Nhà nước). Người nhận bảo lãnh sau khi thực hiện xong nghĩa vụ thay cho người được báo lãnh có quyền yêu cầu bên được bảo lãnh hoàn trả những giá trị tài sản mà mình đã thực hiện nghĩa vụ thay cho người được bảo lãnh.